Sao Thiên Đồng – Không cao không ngạo, dẫu tài bút nghiên!

Sao Thiên Đồng Tinh Luận

Thiên Đồng dương thủy hóa khí là “Phúc” chủ về phúc đức thuộc chòm nam đầu hệ. Thiên Đồng đắc địa người đầy đặn, vào hãm địa thấp nhỏ. Thiên Đồng gặp Đà La ở Mệnh hay có tật ở mắt như lác, lé, cườm mắt. Thiên Đồng hành Thủy nên cũng ưa động, bị động chứ không chủ động, tâm thần không kiên nhẫn mà giao động, luôn luôn đổi ý. Thiên cơ động già dặn kinh lịch, Thiên Đồng động một cách non nớt ấu trĩ.

Thiên Đồng gặp Thiên Riêu tâm tình y hệt người đồng bóng ưa giận dỗi nay thế này mai thế khác. Số nữ có Thiên Đồng đóng thì hiền thục mà khó chiều, dễ hờn mát. Thiên Đồng khoái hưởng thụ hơn phấn đấu. Chủ về Phúc nên đóng ở cung Phúc Đức kể như tốt nhất. Phúc đức cung có sao Thiên Đồng có đời sống mãi mãi sung túc với điều kiện không đi cùng Cự Môn,

Điểm đặc biệt của sao Thiên Đồng là không sợ Sát Kị, để có thể dựa vào Sát Kị làm lực khích phát. Sát Kị đẩy Thiên Đồng vào thế quyết liệt phấn đấu. Đó chính là lý do cổ nhân đưa ra câu phú:

Thiên Đồng Tuất Cung Hóa Kị Mệnh ngộ phản vi giai (Thiên Đồng tại Tuất hội Hóa Kị thủ Mệnh biến ra tốt).

Đồng đóng cung Tuất yên vì

Hãm cung nhưng lại được bề hiển vinh

Nhờ sao Hóa Kị thêm xinh

Ấy là ưng hợp dễ thành giầu sang.

Cách Thiên Đồng cung Tuất hội Hóa Kị cổ thư gọi bằng “ Càn cung phản bối”. Không phải chỉ gặp Hóa Kị không là đủ. Hóa Kị chỉ có tác dụng gây phản ứng như kiểu thi trượt rồi đi lính mà lên tướng, nếu đỗ chắc cả ngày đi chạy trốn quân dịch. Ngoài Hóa Kỵ còn cần Cự Môn, Hóa Lộc, Văn Xương thì mới đến tình trạng bĩ cực thái lai sức dồn ép đến mức cùng bật ngược trở lại.

Song song với cách Càn cung phản bối là cách Mã đầu đới tiễn (cung tên treo cổ ngựa). Mã đầu chỉ cung Ngọ, tiễn là Kình Dương sao xung sát như mũi tên Thiên Đồng đi với Thái Âm tại Ngọ gặp Kình Dương. Chỉ những người tuổi Bính Dậu mới gặp Kình Dương thôi.

Phú nói: “Thiên Đồng Kình Dương cư Ngo vị, uy chấn biên cương” nghĩa là Thiên Đồng đóng cung Ngọ gặp Kình Dương uy thế ra tới ngoài biên ải. Đừng nhầm hễ cứ thấy Thiên Đồng hội Kình Dương cả ở cung Tí mà gọi bằng Mã đầu đời tiễn. Cung tên chẳng thể treo ở cổ chuột.

Tử Vi Đẩu số viết: “Người tuổi Bính an mệnh tại cung Tỵ, Hợi gặp Thiên Đồng, công danh tiền bạc tốt”. Đó là cách Điệp Lộc (hai sao Lộc). Hóa Lộc tại Mệnh Lộc Tồn từ cung xung chiếu Tỵ. Cách Điệp Lộc thi giàu có. Nếu thêm Tả Hữu Khôi Việt thì vừa giàu vừa sang nữa.

Thiên Đồng đóng Dậu, người tuổi Bính cũng có cách Điệp Lộc, Hóa Lộc tại Mệnh, Lộc Tồn từ cung Tài Bạch đứng cùng Cự Môn chiếu qua, Hóa Quyền đi theo Thiên Cơ chiếu lên, tiền bạc khá giả nhưng không hay bằng cách Điệp Lộc của Thiên Đồng Tỵ Hợi bởi lẽ cả ba sao Đồng, Cơ, Cự không đắc địa.

Còn như Thiên Đồng tại Sửu mà tuổi Bính cũng có cách điệp Lộc, hóa Lộc tại Mệnh, Lộc Tồn cung Quan kém hơn. Vì Cự Đồng đồng cung gây chướng ngại trên hoàn cảnh cũng như trên tính tình. Và Lộc Ở Quan chẳng bằng Lộc ở Tài Bạch.

Điệp Lộc còn vào người tuổi Đinh khi Thiên Đồng đóng Ngọ. Nên Tử Vi trong mục Tinh luận mới viết: “Đồng Ngọ hãm, Đinh nhân nghi chi”, Đồng Âm Ngọ hãm địa, nhưng tuổi Đinh lại tốt vì có điệp lộc. Vậy thì Thiên Đồng cần điệp lộc..

Với tuổi Canh, cách Thiên Đồng có một điểm nghi vấn ở cách an bài tứ Hỏa. Tuổi Canh Thiên Đồng gặp Hóa Kị hay Hóa Khoa? Là Nhật Vũ Đồng Âm tay Nhật Vũ Âm Đồng? Theo trình tự của tứ Hóa? Không ai đủ uy quyền mà xác định. Bên Trung Quốc đã bàn cãi nhiều rút cục phái nào làm theo ý phái ấy. Người trọng tài duy nhất chỉ là Trần Đoàn tiên sinh thôi, mà tiên sinh thì chưa sống lại. Tuổi Canh hễ dính dấp đến Thiên Đồng là vấn đề muốn nát óc. Phải mượn tướng cách mà đoán thêm..

Toàn thư viết rằng: “Nhược tại Hợi địa, Canh sinh nhân hạ cục cách ngộ Dương Đà Linh Kị xung hội, tác cô đan phá tướng mục tật”. Câu trên nghĩa là: Nếu Thiên Đồng đóng cung Hợi mà tuổi Canh thì xấu, lại gặp cả Dương Đà Linh Kị nữa thì cô đơn, phá tướng, có mục tật (cận thị nặng hoặc đui mù). Dựa vào câu tên mới lập luận chắc Thiên Đồng bị Hóa Kị nên mới thành hạ cục, thiết nghĩ không lấy chi làm rõ lắm, vì cũng câu trên lại bảo “cánh ngộ” (lại gặp cả) Hóa Kỳ. Sao phải dùng chữ “cánh ngộ” nếu như đương nhiên Thiên Đồng đi với Hoa Kỵ?

Và rõ ràng hơn ở mục sắp xếp các sao thì chính Tử Vi Đẩu số toàn thư vẫn sắp xếp Hóa Kị đứng bên Thái Âm.

Canh Nhật Vũ Đồng Âm vi thủ

Tân Cự Dương Khúc Xương chí.

Riêng tôi thấy Đồng Âm đúng. Bên Trung Quốc Tử Vi thấu phái theo chủ trương Âm Đồng.

Về cách “Càn cung phản bối” của Thiên Đồng tại Tuất đứng với Hóa Kị. Cách này hiện lên chỉ với hai tuổi Tân và Đinh. Tuổi Tân Hóa Kị theo Văn Xương đóng Tuất hoặc Thìn (tùy giờ sinh Tí hay Ngọ). Tuổi Đinh, Hóa Kị theo Cự Môn đóng Thìn. Tuổi Tân Cư Môn còn có cả Hóa Lộc nữa. Tuổi Đinh thì Đồng đứng bên Hóa Quyền.

Khi giải thích về “Càn cung phản bội”, cô nhân viết câu: “Thiên Đồng tại Tuất, Đinh Tân nhân ngộ phản vi kỳ” là thế.
Thiên Đồng cần đi với Hóa Lộc, ở trường hợp “càn cung” nó cần Hóa Kị để làm sức khích động, sức khích động ấy chuyển tình trạng bất lợi sang tình trạng thuận lợi, chuyển hàn vi thành khá giả.

Bĩ cực thái lai, cổ nhân ngầm bảo cho hay rằng cách Càn cung phản bối trước khi nên công phải bị đẩy vào chỗ bĩ đã. Thiên Đồng còn được nhận như bạch thủ hưng gia (tay trắng làm nên) chính là rút tỉa từ cách “Càn cung” vậy. Cách Càn cung phản bối cổ nhân cho rằng không hợp với nữ mạng. Đàn ông con trai phải thiên ma bách triết được, đàn bà mà như thế chẳng khác gì cô thôn nữ chất phát dấn thân vào chỗ phồn hoa.

Chỉ thấy nói Thiên Đồng tại Tuất mới có cách phản bối. Thiên Đồng tại Thìn thì không. Không thấy Đẩu số toàn thư giảng tại sao? Tuy nhiên có luận cứ của người đời sau cho rằng Thìn là cung Thiên La, Tuất là cung Địa Võng. Đã Thiên thì hết khích động phản ứng, chỉ có Địa tiếp xúc với cái thực tế trước mặt mới chịu khích động mà phản ứng thôi, Luận cứ này cũng cho rằng Thiên La nên hiểu theo nghĩa Thiên nhai, Địa Võng nên hiểu theo nghĩa Địa dốc (chân trời góc biển). Thiên nhai (chân trời) không tạo khích động lực như Địa dốc. Cái gì thuộc trời như đã an bài rồi, cái gì thuộc đất còn tiếp tục đấu tranh.

Vào số nữ, cổ nhân cho rằng không nên, nếu như nó đi với Thái Âm hay Thiên Lương

  • Đồng Âm ở Ngọ, ở Tí.
  • Đồng ở Tuất hội chiếu Cơ Âm ở Dần.
  • Đồng ở Dậu đối xung với Thái Âm tại Mão.
  • Đồng đóng Mão, Thái Âm tam hợp từ Hợi.
  • Đồng Lương cùng đóng Dần Thân.
  • Đồng ở Tỵ Lương Hợi, Đồng Hợi Lương Tỵ.

Đẩu số toàn thư viết: “Nữ mệnh bị sát xung phá ắt hình phu khắc tử, nguyệt lương xung phá và hợp thường làm thứ thất hay lẽ mọn”. Ngoài ra cũng sách trên viết câu “tuy mỹ nhi dâm” (tuy đẹp nhưng mà dâm). Thiên Đồng cung Tí là người đàn bà nhan sắc diễm lệ:

Đồng nguyệt Tí gái hoa dung

Gặp Tang Riêu Khốc, khóc chồng có phen.

Đồng Âm ở đây nếu bị Tang Riêu Khốc thường ly phu, khắc phụ thậm chí sát phu. Đồng Âm ở Ngọ đa đoan, nhan sắc không đẹp như Đồng Âm cung Tí nhưng tính dục cực cao. Đồng Dậu, Nguyệt Mão, Đồng Mão Nguyệt Hợi, cũng đẹp và dâm vậy. Luận đoán quan kiện đặt trên căn bản ý chí lực và tình cảm, Thiên Đồng chịu ảnh hưởng của Thái Âm làm cho ý chí lực bạc nhược. Nếu bị xung phá của Hỏa Linh nữa càng bạc nhược lại thêm bị kích thích. Thiên Đồng chịu ảnh hưởng của Thiên Lương đưa ý chí vào mộng cảnh. Nếu bị Kình Dương, Đà La thì càng như sống trong mơ.

Chủ yếu khi luận đoán về Thiên Đồng là ý chí và tình cảm. Ý chỉ với tình cảm phải cần bằng khi vào nữ mạng thì cuộc đời mới yên ổn thảnh thơi, Bị Thái Âm làm cho bạc nhược ý chí. Bị Thiên Lương làm cho viển vông tình cảm đều không hay. Nếu như lại chịu xung phá của Kình Đà Linh Hỏa thêm phiền nữa. Thiên Đồng mừng thấy Khoa Lộc đi bên, Ý chí tình cảm vừa đúng, thăng bằng.

Nếu Thiên Đồng gặp Quyền Kị Lộc, ý chí tình cảm cũng mất thăng bằng như gặp Linh Hỏa Lương Âm Kình Đà. Cổ nhân cho rằng cơm no ấm cật quá tất nghĩ chuyện dâm dật.

Phú có câu: Nữ mệnh Thiên Đồng tức thị hiền (người nữ Thiên Đồng thủ Mệnh hiền thục). Thiên Đồng không đơn giản như thế đâu. Như cách Cự Đồng vào Nữ thì tâm trạng không lúc nào hết thống khổ.

Bản chất hiền thục rất cần an định êm ả. Không có khả năng chống chọi với phá phách phiền nhiễu. Nên Thiên Đồng ý chí phải vững vàng không bạc nhược, không quá khích. Tình cảm phải chân chất, không viển vông mơ ước hão. Bởi vậy Thiên Đồng sợ hóa Kị, Kình Đà, Lương Âm, Hỏa, Linh.

Các sao trong khoa học Tử Vi ẩn chứa cái lý của nhân sinh thật phong phú, Thiên Đồng Thái Âm đi vào nam mạng thì sao? Thiên Đồng với Thái Âm ở Tí Ngọ đều là con người hào hoa, đa tình. Thiên Đồng ở mão Dậu dễ vướng bẫy tình. Cự Đồng đóng cung Sửu Mùi nam mạng tầm thường, cuộc đời nhiều chướng ngại. Cần nghiên cứu thêm qua những câu phú sau đây nói về Thiên Đồng:

*Thiên Đồng ngộ Kiếp Không bất cát (Thiên Đồng thủ Mệnh gặp Kiếp Không thành xấu).

Đồng Âm Ngọ, Bính Mậu tuế cư phúc tăng tài hoạch, gia hãm Long Trì tu phòng mục tật. (Đồng Âm đóng Ngọ, tuổi Bính Mậu công danh phát đạt tiền tài phấn chấn, ngại gặp Long Tri tất có tật ở mắt).

Đồng Âm tại Tý, nguyệt lãng thiên môn dung nhan mỹ ái, Hổ Khốc Riêu Tang xâm nhập chung thân đa lệ phối duyên. (Đồng Ẩm thủ Mệnh tại Tý, như mặt trăng sáng nơi cửa trời, nhan sắc xinh đẹp nếu bị Bạch Hổ, Thiên Khốc, Thiên Riêu, Tang Môn xâm nhập thì dang dở, khổ tình hay góa bụa).

*Phúc điệu phùng Việt điệu ư Tý cung định thị hải hà dục tú. (Đồng Âm đóng Tý thủ Mệnh gặp Thiên Việt có vẻ đẹp sang trọng uy nghi).

*Phúc điệu nhi ngộ Cự Môn thê nhi lãng đãng. (Thiên Đồng Cự Môn Đồng cư thủ Mệnh lận đận cuộc đời, nhưng Thiên Đồng Cự Môn đóng phối cung thì hoặc muộn chồng Vợ muộn con hoặc gẫy đổ duyên tình).

*Đồng Lương viên, ngộ Khôi Quyền tăng phùng Linh Kị, giao lại song Lộc doanh thương dị đạt phú cường. (Đồng Lương đồng Mệnh, gặp Thiên Khôi, Hóa Quyền lại có Linh Kỵ và Song Lộc chiếu làm thương mại dễ nên giầu).

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *