Sao Thái Âm – Nguyệt Tại Hợi Cung – Minh Châu Xuất Hải

Sao Thái Âm - Nguyệt Tại Hợi Cung - Minh Châu Xuất Hải

LUẬN VỀ SAO THÁI ÂM:
Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư khi luận về sao Thái Âm bao giờ cũng dựa trên ba cơ sở:
a) Đứng đúng chỗ hay không? Miếu địa hay Hãm địa?
b) Sinh ban ngày hay sinh ban đêm?
c) Sinh vào thượng tuần hay hạ tuần trong tháng?
Thái Âm đóng Hợi, Tý, Sửu tốt nhất, Thân Dậu, Tuất thứ nhì, Ở Dần, Mão, Thìn kêu bằng thất huy (mất vẻ sáng). Ở Tỵ, Ngọ, Mùi là lạc hãm. Trong chỗ tốt nhất thì Hợi tốt hơn cả, cổ nhân đặt thành cách: “Nguyệt lãng thiên môn”.
Sinh ngày sinh đêm chia hai nhóm giờ:
1) Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi.
2) Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý, Sửu.
Về thượng tuần hay hạ tuần thì từ 1 đến rằm là thượng tuần, từ 16 đến ba mươi là hạ tuần. Thượng tuần mặt trăng mỗi ngày mỗi tròn. Hạ tuần mặt trăng mỗi ngày mỗi khuyết. Tròn tốt, khuyết xấu. Nhưng người sinh hôm rằm thời gian trăng tròn tới điểm cực lại không đẹp bằng người sinh ngày 13 hay 14.
Về Thái Âm trong những câu luận đoán có một câu đáng chú ý: “Thái Âm tại Thân Mệnh cung chủ tùy nương cải giả” nghĩa là bỏ chồng về nhà mẹ. Điều này không thể cứ Thái Âm là áp dụng. Còn phải tùy Thái Âm có rơi vào hãm địa hay không. Nếu Thái Âm ở Tị, sinh vào hạ tuần mà sinh ban ngày thì lời luận đoán trên rất đúng về cái việc “tùy nương cải giá”, còn thêm sát tinh phụ hội càng đúng hơn, nhất là Hỏa Tinh.
Cổ nhân còn viết: “Thái Âm thủ Mệnh bất lợi cho những người thân thuộc về phái nữ, vào nam mệnh thì mẹ mất sớm, về cuối đời góa vợ, xa chị em gái, vào nữ mệnh cũng thế, ngoài ra còn ảnh hưởng đến bản thân nữa. Điều này cũng chỉ áp dụng khi Thái Âm rơi vào tình trạng lạc hãm, thượng tuần, hạ tuần và sinh ngày sinh đêm.
Thái Âm vào Thân, ảnh hưởng nghiêm trọng hơn Mệnh với trường hợp Thái Âm tại Tỵ mà gặp Thái Dương Thiên Lương ở Dậu, rồi bên cạnh Thái Âm còn gặp sát tinh hội tụ nữa, ảnh hưởng nặng nề hơn.
Với thời đại hiện ngày nay, chuyện “tùy nương cải giá” không như ngày xưa cho nên khi nói về hậu quả của sự việc ấy phải rộng rãi hơn. Nguyên tắc của Tử Vi sao thường có cặp đôi, thấy Thiên Phủ thì trước hãy xem thế đứng của Thái Dương.
Trong bản số chi có hai cung Thái Âm, Thái Dương đứng một chỗ là Sửu hoặc Mùi. Nếu tất cả hai cùng tốt, mà xấu thì cả hai cùng xấu. Những sao đi cặp, hễ cứ sao xung chiếu bị ảnh hưởng tốt xấu đều phản xạ qua sao bên kia.
Nhật Nguyệt ở Sửu Mùi thì ở Mùi tốt hơn ở Sửu. Tại sao? Vì Thái Dương ảnh hưởng mạnh hơn Thái Âm mà tại cung Mùi thì Thái Dương không thất huy như đóng tại cung Sửu mới có sức trợ giúp Thái Âm. Cho nên Nhật Nguyệt tại cung Sửu cuộc đời khó hiển đạt và lên xuống thất thường, nhưng Nhật Nguyệt tại cung Mùi an định hơn.
Nhật Nguyệt đồng cung mang nhiều khuyết điểm, vì cổ ca viết: Nhật Nguyệt thủ bất như chiếu hội, tịnh minh nghĩa là Nhật Nguyệt đóng mệnh không bằng chiếu Mệnh hoặc đứng hai chỗ cùng sáng như Thái Âm Hợi, Thái Dương Mão, Thái Âm Tuất, Thái Dương Thìn.
Phú nói:
Nhật Nguyệt Mệnh Thân cư Sửu Mùi
Tam phương vô cát phản vi hung.
Vậy thì cách Nhật Nguyệt Sửu Mùi cần những sao tốt khác trợ lực mới đáng kể.
Thái Âm gặp Cự Môn Hóa Kị bị nhiều phiền lụy. Như trường hợp Mệnh không chính tinh Nhật đóng cung Thân, Nguyệt đóng cung Ngọ bên cạnh Nhật có Cự Môn gia thêm Hóa Kị, phá mất cái tốt của hiệp. Thái Âm cũng không ưa Thiên Lương trong trường hợp đóng ở Tỵ, mà Dương Lương từ Dậu chiếu thường đưa đến tình trạng ly tán vợ chồng. Trường hợp Mệnh Cự Môn Thái Dương mà cung Thê Phu có Đồng Âm gặp Hóa Kị duyên cũng khó bền. ..
Về Thái Âm cổ nhân còn tìm thấy cách “minh châu xuất hải” (hòn ngọc sáng rực ngoài biển khơi). Cách này đòi hòi Mệnh vô chính diệu tại Mùi, Thái Âm đóng Hợi, Thái Dương đóng Mão. Sách viết: “Nhật Mão Nguyệt Hợi Mệnh Mùi cung. Minh châu xuất hải vị tam công” (Thái Dương Mão, Thái Ấm Hợi, Mệnh lập Mùi là cách minh châu xuất hải chức vị cao, quyền thế). Nhưng cách “minh châu xuất hải” vẫn phải cân Tả Hữu đứng cùng Nhật Nguyệt mới toàn bích, thiếu Tả Hữu mà gặp thêm hung sát tinh thì chỉ bình thường.
Luận về Thái Dương Thái Âm còn phải chú ý đến các cách giáp Mệnh Như Thiên Phủ thủ Mệnh ở cung Sửu, Nguyệt tại cung Dần, Nhật tại cung Tí, Thiên Phủ tại cungMùi Nguyệt ở cung Thân, Nhật giáp từ cung Ngọ.
Rồi đến Nhật Nguyệt hiệp Mệnh như Tham Vũ ở cung Sửu và cung Mùi. Tham Vũ ở cung Sửu thì Thái Âm ở cung Tí, Thái Dương ở cung Dần. Tham Vũ ở cung Mùi thì Thái Âm ở cung Ngọ, Thái Dương ở cung Thân. Mệnh lập tại cung Sửu vẫn tốt hơn Mệnh lập ở cung Mùi. Hiệp với giáp vào cung phu thê không mấy tốt, nếu kèm luôn hung sát tinh dẫn đến tình trạng hôn nhân dễ xảy ra biến cố.
Trường hợp Thiên Phủ ở cái thế kho thủng, kho rỗng, kho lộ mà giáp hiệp càng gây khó khăn hơn, Thái Âm thuộc âm thủy, chủ về điền sản và tiền bạc.
Thái Âm thủ nữ mệnh hay nam mệnh đều có khuynh hướng về hưởng thụ, công việc gì cần nhẫn nại gian khổ không thể giao cho người Thái Âm. Thái Âm vào nữ mệnh sinh ban đêm là người đàn bà có nhan sắc, có cả Xương Khúc nữa càng mặn mà. Thái Âm có khả năng thông tuệ nhưng lại thiếu nhẫn nại để mà học cao đến mức hiển đạt vì học vấn.
Thái Âm hãm độc tọa thủ Mệnh vào nam mệnh thì nội tâm đa nghi. Vì Thái Âm chủ về điền sản nên đắc địa vào cung điền trạch rất tốt. Thái Âm đắc địa thủ Mệnh số trai dễ gần cận phái nữ không ồn ào mà âm thầm nhưng khi thành gia thất rồi thì vợ nắm quyền.
Thái Âm nữ mệnh đắc địa, đa tình lãng mạng, thiện lương, nhưng thiếu chủ kiến, có tâm sự u uẩn phải bộc bạch ra mới yên, cái bản chất quí thủy (nước trong) nên bao giờ cũng thích làm dáng, ăn ngon mặc đẹp.
Thái Âm hãm thủ mệnh lại đứng cùng Văn Khúc hăm nữa chỉ đạt được thành tựu như một nghệ nhân tầm thường với cuộc sống phiêu bạt kiếm chặng đủ miệng ăn. Tử Vi Đẩu Sổ Toàn Thư còn ghi một câu: Thái Âm cư Tí, thủy chừng quế ngạc, Bính Đinh nhân dạ sinh phú quí trung lương (Thái Ấm đóng Tý như giọt sương mai động trên hoa quế, người tuổi Bính Đinh sinh vào ban đêm giầu sang, tâm địa trung lượng và tuổi Bính tuổi Đinh đều có gặp Lộc Quyền, hay Lộc Tồn mà nên vậy).
*Nguyệt diệu Thiên Lương nữ dâm bần. (Thái Âm gặp Thiên Lương đàn bà đa dâm và nghèo. Câu này chỉ vào trường hợp Thái Âm tại Mão hay Tị hội chiếu Thiên Lương từ Mùi hoặc Dậu, Thái Âm hãm mới kể).
Nữ mệnh dung nhan mỹ tú, ái ngộ Nguyệt Lương. (Người đàn bà có nhan sắc là bởi Thái Âm, Thiên Lương, về nhan sắc thì Thái Âm hãm hay đắc địa như nhau, duy Thái Âm đắc địa dung nhan phúc hậu hơn).
*Nữ mệnh kỵ Nguyệt ngộ Đà. (Đàn bà rất kỵ Thái Âm gặp Đà La. Tại sao? Vì ưa loạn dâm. Thái Âm vốn dĩ đa tình lại có Đà La là tượng trưng sinh thực khí của đàn bà giống như dục tính mạnh quá mà loạn).
“Nguyệt tại Hợi cung minh châu xuất hải tu cần Quyền Kị Khúc Xương hạn đáo. (Nguyệt ở cung Hợi là cách minh châu xuất hải, để phấn phát còn cần gặp vận Khúc Xương Quyền Kỵ).
* Âm Dương lạc hãm tu cần không diệu tối kỵ sát tinh. ( Âm Dương đứng không đúng chỗ, cần gặp Tuần Triệt Địa Không, đáng ngại nếu bị sát tinh hãm hại).
*Thái Âm, Dương, Đà tất chủ nhân ly tài tán. (Sao Thái Âm gặp Kình Dương, Đà La thì nhân ly tài tản. Đây chỉ nói về Thái Âm hãm thôi).
* Âm Tang Hồng, Nhẫn, Kỵ, Riêu, tân liên hàm tiếu hạn phùng Xương Vũ dâm tứ xuân tình liên xuất phát. (Thái Âm có Hồng Loan, Kình Dương, Riêu, Kỵ chỉ người đàn bà đẹp như đóa sen mới nở, nhưng gặp hạn Văn Xương, Vũ Khúc tất sa ngã vì tình).
*Thanh kỳ Ngọc Thỏ tuy lạc hãm nhi bất bần. (Mệnh CÓ sao Thái Âm dù không đắc địa, không bao giờ túng quẫn).
* Âm Dương lạc hãm gia Hình Kỵ Phu Thê ly biệt. (Cung Phối Nhật hay Nguyệt hãm mà thêm Hình Kỵ vợ chồng không sống đời với nhau).
*Nguyệt phùng Đà Kị Hổ Tang, thân mẫu thần trái nan toàn thọ mệnh. (Thái Âm gặp Đà La Hóa Kị, Tang Hổ thì mất mę sớm).
*Thái Âm đồng Văn Khúc ư Thê cung thiềm cung triết quế. (Cung Thê có Thái Âm đứng cùng Văn Khúc như lên cung trăng bẻ cành quế, lấy vợ đẹp và giầu sang. Nếu là cung Phu thì không được như vậy, tuy vẫn gọi là tốt).
*Duyên lành phò mã ngôi cao
Thái Âm đắc địa đóng vào Thê cung.
*Vợ giầu của cải vô ngần
Thái Âm phùng Khúc Lộc Ân Mã đồng.
*Âm Dương Tuần Triệt tại Tiền
Mẹ cha định đã chơi tiên chưa nào.
(Phải Âm Dương đắc địa mới kể).
* Âm Dương hội chiếu Mệnh Quan
Quyền cao chức trọng mới đàng hanh thông.
*Nguyệt miếu vương trùng phùng Xương Khúc
Việt Khôi Hóa Quyền Lộc Đào Hồng
Thiên Hi Tả Hữu song song
Giầu sang hỗ dễ ai hòng giảm tranh.
*Thái Âm lạc hãm phải lo
Kị lâm thường thấy tay vò dăm chiêu.
*Nguyệt gặp Long Trì ở cùng
Tuy xấu nhưng cũng được phần ấm thân.
*Thiên Cơ với Nguyệt cùng ngồi
Ở cung hãm địa ấy người dâm bôn.
(Cơ và Thái Âm ở Dần, đẹp nhưng lãng mạn).
Về hai sao Thái Dương và Thái Âm còn có một luận đoán đáng kể mà không thấy ở các sách Tử Vi chính thống, như sau:
Nam có Thái Âm thủ Mệnh cử chỉ thái độ hao hao như nữ tử, trái lại nữ có Thái Dương thủ mệnh thì tính quyết liệt, hành động có nhiều nét giống đàn ông.
Nam có Thái Dương thủ mệnh thường xung động Thái Ấm cung đối chiếu thường có khuynh hướng tà dâm, đổi lại nữ mệnh Thái Âm tọa thủ xung động Thái Dương thường là thủy tính dương hoa (lẳng lơ, lãng mạn), nhiều ít sẽ còn phải tùy thuộc cung phúc đức. Nam có Thái Âm thủ mệnh ưa thân cận với phái nữ, ngược lại nữ có Thái Dương thủ mệnh thích giao du với nam phái.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *